• Chia sẻ bài viết Viễn thông Trung Quốc - kinh nghiệm hậu WTO lên Linkhay
  • Giúp ictnews sửa lỗi

Viễn thông Trung Quốc - kinh nghiệm hậu WTO

Năm 2001, Trung Quốc chính thức gia nhập WTO. Con đường cạnh tranh và phát triển viễn thông ở Trung Quốc đứng trước thời cơ và thách thức mới...

Viễn thông Trung Quốc - kinh nghiệm hậu WTO

China Telecom - "xương sống" của viễn thông Trung Quốc

Năm 2001, Trung Quốc chính thức gia nhập WTO. Con đường cạnh tranh và phát triển viễn thông ở Trung Quốc đứng trước thời cơ và thách thức mới...

Khó khăn và thách thức

Tác động đầu tiên là áp lực cạnh tranh, và rõ nhất là lĩnh vực chế tạo máy di động cầm tay: sản phẩm quốc nội chiếm thị phần rất nhỏ, trong khi đó sản phẩm của 3 “đại gia” nước ngoài như Motorola, Nokia, Ericsson chiếm đến 82,7% thị phần. Một số nhà máy của các công ty nước ngoài ra sức đè bẹp sức cạnh tranh của các nhà sản xuất Trung Quốc: giảm mạnh giá bán sản phẩm, mua tồn kho số lượng lớn các vật liệu cần cho sản xuất máy di động, thậm chí mua đứt một số nhà máy chế tạo các linh kiện, vật liệu cần thiết mà Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu…

Khi mới gia nhập WTO, sản phẩm chủ yếu của các nhà sản xuất thiết bị thông tin Trung Quốc chủ yếu là các tổng đài điện tử, cáp quang, còn các sản phẩm tiên tiến khác thì đang ở giai đoạn nghiên cứu phát triển, chưa có sản phẩm để cạnh tranh với các hãng nước ngoài. Việc chế tạo thiết bị thông tin di động trùng lặp, nhiều nơi cùng làm, quá nhiều loại hình, kinh doanh phân tán.

Sau khi cải cách và mở cửa, tốc độ tăng trưởng viễn thông hàng năm của Trung Quốc đạt trên 25%, đứng đầu thế giới về tốc độ phát triển. Nhưng nếu đi sâu phân tích tình hình đầu tư phát triển thì không khó nhận ra rằng: Tốc độ tăng trưởng cao của viễn thông Trung Quốc chủ yếu nhờ đổ vào các khoản đầu tư cực lớn. Do nặng kinh doanh về bề rộng, chưa đi vào chiều sâu nên sản phẩm làm ra chưa tương xứng với khoản đầu tư cực lớn đổ vào.

Môi trường và không khí cạnh tranh trên thị trường viễn thông Trung Quốc chưa sâu sắc và còn đơn giản. Trước khi China Telecom tách làm đôi, trừ dịch vụ giá trị gia tăng được mở cửa cho các nhà khai thác trong nước cạnh tranh, còn lại các dịch vụ viễn thông cơ bản vẫn do 4 “đại gia” viễn thông Trung Quốc là China Telecom, China Mobile, China Unicom và Công ty Trường thành kinh doanh khai thác. Trong đó, về điện thoại cố định hầu như 100% thị phần thuộc China Telecom, còn China Mobile chiếm khoảng 95% thị phần thị trường thông tin di động.

Nhiều điều khoản trong luật viễn thông của Trung Quốc chưa phù hợp với các quy định của WTO. Thống kê những năm vừa qua cho thấy, sau khi gia nhập WTO Trung Quốc đã phải thanh lý 2.300 văn bản pháp quy, ngoài ra còn loại bỏ, đình chỉ thực hiện hoặc tu sửa trên 190.000 văn bản pháp quy hoặc quy định của chính quyền địa phương.

5 chính sách lớn hậu WTO

Để vượt qua những thách thức và phát triển vững chắc trong khi hội nhập với nền kinh tế thế giới, chính phủ Trung Quốc đã đề ra 5 chính sách lớn sau:

• Xây dựng và thực thi chính sách tin học hóa, nâng cao trình độ tin học hóa nước nhà, nhanh chóng giải quyết “hào ngăn số hoá” giữa các vùng trong nước. Chính sách này xuất phát từ quan điểm chiến lược: Muốn cạnh tranh và đứng vững trước hết phải tự thân phát triển, phải tạo ra một nền tảng ICT vững chắc.

• Xây dựng và kiện toàn hệ thống chính sách và văn bản pháp quy thúc đẩy tin học hoá phát triển. Một loạt chính sách cụ thể nhằm đẩy mạnh phát triển công nghiệp thông tin trong nước đã được Chính phủ Trung Quốc triển khai, bao gồm: Các chính sách khuyến khích đẩy mạnh phát triển công nghiệp phần mềm và công nghiệp sản xuất mạch tích hợp cỡ lớn; các chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của Trung Quốc trên lĩnh vực ICT, bao gồm các chính sách tài trợ của nhà nước (bao gồm cả tài chính và nhân lực) cho các đề tài nghiên cứu chế tạo trọng điểm nhà nước có triển vọng giữ vị trí cao trên thị trường quốc tế của Trung Quốc.

• Tiếp tục hoàn thiện các chính sách quản lý ICT, bổ sung hoàn thiện các chính sách cấp phép kinh doanh thị trường ICT, thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài. Để triển khai chủ trương này, Chính phủ Trung Quốc đã đẩy nhanh việc thông qua Luật Viễn thông, tăng cường việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy dựa trên “Luật Viễn thông”. Đồng thời, Chính phủ Trung Quốc cũng tiếp tục hoàn thiện các văn bản hiện có về “Điều lệ Viễn thông”, “Quy định về quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”… cho phù hợp với các qui định của WTO. Ngày 16/5/2002, China Netcom và China Telecom thành lập trên cơ sở tách China Telecom thành 2 công ty Nam – Bắc, báo hiệu chấm dứt thời kỳ độc quyền kinh doanh thị trường viễn thông ở Trung Quốc. Đến tháng 5/2001, VodaFone đã bỏ ra 3,25 tỷ USD để mua 3,27% cổ phần của China Mobile tại thị trường chứng khoán Hồng Kông. Ngày 8/4/2004, SK Telecom cùng với China Unicom thành lập công ty hợp tác đầu tư ở Bắc Kinh, trong đó SK Telecom chiếm 49% cổ phần. AT&T, Telstra, NTT DoCoMo… cũng lần lượt thành lập các công ty liên doanh khai thác viễn thông ở Trung Quốc, thúc đẩy thêm không khí cạnh tranh trên thị truờng rộng lớn này.

• Tăng cường xây dựng các văn bản pháp quy về Chính phủ điện tử và thương mại điện tử. Đây không những là các giải pháp thúc đẩy tin học hoá nước nhà, nâng cao năng suất lao động, cải cách hành chính, giảm phiền hà cho nhân dân và doanh nghiệp mà còn là một yêu cầu tất yếu để hội nhập trong nền kinh tế toàn cầu khi đã tham gia WTO.

• Kiện toàn cơ chế quản lý ngành viễn thông và CNTT. Cơ chế quản lý ICT của Trung Quốc đã qua nhiều lần cải cách, mãi đến năm 1998 mới hình thành mô hình tổ chức và quản lý như hiện nay: Việc xác lập và điều hoà chính sách phát triển ICT do văn phòng  Tin học hoá của Trung ương và Tiểu ban tin học hoá của Chính phủ phối hợp thực hiện và điều phối. Bộ Công nghiệp thông tin đồng thời phụ trách việc sản xuất các sản phẩm viễn thông và CNTT, thúc đẩy phát triển phần mềm và kinh doanh dịch vụ viễn thông, thúc đẩy tin học hoá. Tổng cục phát thanh và truyền hình quản lý sự nghiệp phát thanh và truyền hình. Uỷ ban cải cách và phát triển nhà nước điều hành các chính sách vĩ mô. Mô hình quản lý hiện nay phù hợp với hiệp định cơ bản  về viễn thông của WTO: không yêu cầu cơ quan vạch chính sách và giám sát việc thực hiện chính sách độc lập với nhau mà yêu cầu cơ quan giám sát và doanh nghiệp kinh doanh khai thác phải độc lập với nhau. Để thúc đẩy tin học hoá đất nước, đứng vững trong cạnh tranh,Trung Quốc cho rằng trên cơ sở ổn định mô hình tổ chức quản lý nhà nước về ICT như hiện nay trong một thời gian tương đối dài, cần tăng cường vai trò hoạch định chính sách phát triển CNTT và các cơ chế quản lý thúc đẩy việc thực thi các chính sách đó; tích cực cải cách các thể chế quản lý dựa trên mô hình tổ chức quản lý đã xác lập, đẩy mạnh cải cách mô hình tổ chức để nâng cao năng lực sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp theo hướng hội tụ và tập trung vốn, nguồn lực.

Sau hơn 5 năm gia nhập WTO, với những chủ trương, chính sách hội nhập và phát triển đúng đắn, ngành công nghiệp CNTT và viễn thông Trung Quốc tiếp tục có bước phát triển mới. Viễn thông Trung Quốc tiếp tục phát triển với tốc độ tăng trưởng 2 con số, thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực ICT tăng mạnh, công nghiệp sản xuất thiết bị thông tin Trung Quốc có bước nhảy vọt, một số doanh nghiệp như Huawei, Zhungxing, Lenovo, TCL… đã có thể cạnh tranh với các “đại gia” sản xuất viễn thông thế giới. Những thành công cũng như khó khăn của Trung Quốc trong cạnh tranh và hội nhập sau khi gia nhập WTO sẽ là những bài học quý báu cho ngành CNTT và viễn thông nước ta trong chặng đường dài sắp tới.

Trung Ngôn

Tương tác trực tiếp với ICTnews trên Facebook

Từ khoá:

Video đang được xem nhiều

  • Chia sẻ bài viết Viễn thông Trung Quốc - kinh nghiệm hậu WTO lên Linkhay
  • Giúp ictnews sửa lỗi

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang