4.jpg
Một lý do thành công của Viettel là tưởng tượng ra tương lai sau đó tìm cách thực hiện. 

Phải tưởng tượng để hành động

ICTnews - Một trong những lý do Viettel đạt được tốc độ tăng trưởng 100% hàng năm là vì chúng tôi liên tục tưởng tượng ra tương lai, sau đó tìm biện pháp để thực hiện, ít khi chỉ dựa vào hôm nay để suy ra ngày mai.

Bài liên quan:

>> Cơ hội vàng để phát triển CNTT

>> Phải có DN CNTT khi nói đến biết đó là Việt Nam

Bộ TT&TT đang xây dựng Đề án Tăng tốc để đưa Việt Nam trở thành cường quốc về CNTT. Các chuyên gia cho rằng, để làm được “cuộc cách mạng” này cần phải có những chính sách mang tính đột phá. Hiện đề án này đang được mổ xẻ và nhìn nhận theo nhiều góc độ khác nhau.

BĐVN xin giới thiệu ý tưởng của ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel.

Thị trường CNTT-TT thế giới năm 2009 khoảng 3.500 tỷ USD, dự báo đến 2015 đạt 6.000 tỷ, nên nếu chúng ta có đặt mục tiêu 45 tỷ USD thì cũng mới chỉ chiếm 0,75%. Đây không phải một số lớn đối với một đất nước có số dân đứng thứ 12-13 trong số gần 200 quốc gia.

Thế nào là một cường quốc CNTT?

Lúc đầu, trong dự thảo Đề án gửi các doanh nghiệp, Bộ TT&TT chỉ đưa ra mục tiêu là một quốc gia mạnh về VT và CNTT. Theo quan điểm của tôi, chúng ta nên đặt mục tiêu trở thành một cường quốc CNTT. Mạnh thì không mang tính dẫn dắt, có lẽ mới ở mức sử dụng, còn cường quốc thì có tính dẫn dắt, tức là có sự sáng tạo mang tính toàn cầu. Vậy, hiểu thế nào là một cường quốc CNTT? Thực ra cũng chưa có ai định nghĩa cả. Vậy thì chúng ta hãy tự định nghĩa, tức là hãy hình dung ra mình muốn gì. Tôi cho rằng, một cường quốc CNTT tức là việc tiêu xài CNTT phải rất phổ biến và ở mức cao nhất.

Thí dụ, mức tiêu xài dịch vụ viễn thông trung bình trên thế giới chiếm 3,5% GDP thì chúng ta phải gấp đôi. Mức phổ cập trung bình trên thê giới khoảng 60%, thì chúng ta đặt mục tiêu: mỗi người dân Việt Nam phải có một chiếc điện thoại di động băng thông rộng, chất lượng cao không chỉ dùng để nghe, gọi mà còn có thể chia sẻ hình ảnh, video; mỗi gia đình Việt Nam phải có một máy điện thoại cố định, một đường truyền Internet tốc độ cao và một TV truyền hình cáp đạt tiêu chuẩn HD có thể xem được chương trình theo yêu cầu.

Chính phủ Việt Nam phải là đầu tầu về sử dụng CNTT để tạo thói quen cho người dân và dẫn dắt người dân sử dụng. Thị trường trong nước lớn mạnh chính là mảnh đất, là cái nôi cho sự sáng tạo ra công nghệ và sản phẩm, và từ đó đi ra nước ngoài. Hàn Quốc và Trung Quốc đều lấy trong nước làm gốc để đi ra nước ngoài.

Làm thế nào để trở thành một cường quốc CNTT?

Nếu tốc độ phát triển của ngành CNTT – TT chỉ bằng tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam, thậm chí gấp 2 lần thì chắc Việt Nam sẽ không bao giờ trở thành cường quốc về CNTT. Vì vậy, muốn đột phá thì ngành ICT phải có tốc độ phát triển gấp 3-4 lần GDP, tức là tốc độ tăng trưởng của ngành này phải khoảng 25%/năm trong vòng 5-10 năm tới. Nếu doanh thu của ngành năm 2009 là 12 tỷ USD thì năm 2015, tức là sau 6 năm nữa, doanh thu phải đạt 40-45 tỷ USD. Con số này có thể gọi là một sự đột phá.

Vậy con số 40-45 tỷ USD lấy đâu ra? Có viển vông quá hay không? Điều này rất phụ thuộc vào cách nghĩ của chúng ta. Nếu chúng ta nghĩ rằng dịch vụ viễn thông chỉ là tiêu xài của người dân thì rất khó vượt qua 7-8% GDP. Nhưng nếu chúng ta quan niệm rằng 65 triệu khách hàng viễn thông không chỉ là người trả tiền cho nhà khai thác mà còn là người phát triển nội dung thông tin, sáng tạo ra sản phẩm để bán, nhà mạng lúc đó lại đóng vai trò là người thu tiền hộ khách hàng, thì doanh thu của dịch vụ viễn thông sẽ không phải 7-8% mà có thể là 10-15% GDP.

Nếu chúng ta nghĩ rằng Việt Nam có tới 65 triệu tài khoản ATM trên máy di động để mọi người có thể gửi cho nhau 50.000 đồng lúc khó khăn, nhất là cho bà con tận miền núi thì chúng ta sẽ có một nguồn doanh thu mới. Nếu các doanh nghiệp Việt Nam có thể đi ra nước ngoài đầu tư thì thị trường của chúng ta lớn gấp nhiều lần trong nước (thí dụ, Viettel mới đi ra được Lào và Campuchia 2-3 năm gần đây, nhưng doanh thu đã có thể đạt 300 triệu USD).

Nếu chúng ta thay vì lắp ráp thiết bị điện tử viễn thông mà thiết kế ra các thiết bị cá thể hóa cho các thị trường, cho các phân đoạn thị trường thì chúng ta có thể cạnh tranh được với các tên tuổi toàn cầu vốn chỉ tập trung vào các sản phẩm như Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nói là “sản phẩm không có tính văn hóa”, khi đó doanh thu của ngành sẽ rất lớn. Thị trường CNTT-TT thế giới năm 2009 khoảng 3.500 tỷ USD, dự báo đến 2015 đạt 6.000 tỷ, nên nếu chúng ta có đặt mục tiêu 45 tỷ USD thì cũng mới chỉ chiếm 0,75%. Đây không phải một số lớn đối với một đất nước có số dân đứng thứ 12-13 trong số gần 200 quốc gia.

Viettel trong 4 năm liên tiếp 2005-2008, doanh thu năm sau gấp đôi năm trước, năm 2009 có tốc độ tăng trưởng 80%, đạt doanh thu 60.000 tỷ đồng. Một trong những lý do Viettel đạt được tốc độ tăng trưởng này là vì chúng tôi liên tục tưởng tượng ra tương lai, sau đó tìm biện pháp để thực hiện, ít khi Viettel chỉ dựa vào hôm nay để suy ra ngày mai.

Khi mọi người cho rằng điện thoại di động chỉ dành cho người có thu nhập cao (4-5% dân số) thì Viettel nghĩ rằng mỗi người có thể có điện thoại di động. Khi mọi người tập trung ở thành phố thì Viettel đi về nông thôn. Khi mọi người “kinh doanh đến đâu đầu tư đến đấy” thì Viettel “đầu tư trước kinh doanh sau”, khi trong nước chưa thật mạnh thì đã đi ra nước ngoài. Khi mọi người nghĩ thị trường viễn thông đã bão hòa thì chúng tôi lại thấy trên 20 triệu hộ gia đình chưa có Internet băng rộng, gần 10 triệu hộ nông dân chưa có điện thoại để bàn, hàng triệu ô tô chưa được trang bị một sim di động…

Với những công nghệ mang tính đột phá đã được ra đời cuối thế kỷ 20 thì đầu thế kỷ 21 này sẽ là ứng dụng những công nghệ đó vào cuộc sống, là thiết kế phù hợp với các thị trường, nó mở ra một không gian sáng tạo rộng lớn, nó là cơ hội cho Việt Nam chúng ta vốn có những con người rất sáng tạo, vốn có cách nghĩ không theo thông lệ. Thành công hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự tưởng tượng phong phú của chúng ta. Hình dung tương lai và sau đó huy động các nguồn lực (không chỉ trong nước mà cả thế giới), và tìm các biện pháp thực hiện.

1.jpg

Chiến lược để đi đến đích?

Khi nói đến chiến lược là nói đến sự lựa chọn. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải chấp nhận bỏ đi một số thứ để tập trung vào một số thứ khác. Trên thực tế có nhiều sự lựa chọn đúng, nhưng chúng ta sẽ chỉ thành công khi theo đuổi đến cùng và thực hiện xuyên suốt một chiến lược. Một số người còn nói hơi cực đoan rằng sự xuyên suốt còn quan trọng hơn là chọn cái nào. Nhiều khi chúng ta mất khá nhiều thời gian và công sức vào thảo luận để lựa chọn mà không để ý rằng sự điều hành xuyên suốt, triệt để mới là yếu tố quyết định thành công.

Nói về sự lựa chọn, thì chúng ta nên có sự lựa chọn mang tính khác biệt, dựa trên xu thế mới của thế giới và đặc tính văn hóa của con người Việt Nam. Chúng ta đang sống trong một thế giới thay đổi nhanh đến mức mà cái hôm qua thành công thì hôm nay có thể dẫn đến thất bại, chúng ta cũng nhận thấy là có rất ít trường hợp học theo chiến lược của một nước khác mà thành công. Chẳng hạn như nói về sản xuất CNTT thì có trường phái cho rằng phải sản xuất đại trà và Trung Quốc là sự lựa chọn đúng. Thế nhưng, thế giới đã bắt đầu thay đổi, thời đại sản xuất đại trà đã đi qua và đến giai đoạn cá thể hóa và cần sản phẩm riêng phù hợp với từng phân đoạn thị trường.

Nhu cầu cá thể hóa các sản phẩm CNTT thì ngay cả trên thế giới cũng chưa có công ty hay quốc gia nào hướng đến. Hãng Nokia sản xuất điện thoại cho hàng tỷ người trên thế giới dùng, nhưng ở Việt Nam lại có nhu cầu điện thoại di động có 3 phím cho học sinh cấp 2 liên hệ với bố, mẹ và nhà. Nokia chắc sẽ không sản xuất. Nhưng nếu Việt Nam có nhu cầu 500.000 máy và chắc khá nhiều nước châu Á có nhu cầu tương tự thì đó là thị trường đủ lớn để chúng ta thiết kế và sản xuất.

Vấn đề nguồn nhân lực để hiện thực hóa đề án?

Nhiều ý kiến đang tỏ ra lo lắng về nguồn nhân lực của Việt Nam thấp, không đáp ứng được yêu cầu của chiến lược này. Điều này đúng. Thế nhưng, chúng ta thử nghĩ khác đi xem sao. Nếu chúng ta nghĩ, có việc là sẽ có người. Người thì có thể huy động trên toàn thế giới. Liệu chúng ta có nghĩ ra việc với hàm lượng chất xám cao, có thị trường để bán được hàng không? Nếu làm được việc đó thì chúng ta có thể trả lương 10-20.000 USD/tháng và khi đó chúng ta có thể có được những người giỏi nhất từ Mỹ, Ấn Độ…

Những người giỏi ấy sẽ về Việt Nam làm việc và lan tỏa tri thức, và đó là cách nhân lực Việt Nam phát triển nhanh hơn. Có việc làm, có lương cao thì các bậc cha mẹ sẽ đầu tư cho con cái học các trường đại học tốt với giá cao, các trường đại học sẽ phải cạnh tranh nhau về chất lượng và từ đó giáo dục đại học cũng tốt lên.

Ngay cả những việc mang tính sáng tạo cao như thiết kế thì 90-95% vẫn có thể qui trình hóa được. Vậy chỉ còn 5-10% là thật sự chất lượng cao. Nếu chúng ta nghĩ như vậy thì bài toán con người đã dễ đi 10-20 lần rồi.

Nguyễn Mạnh Hùng

Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số Xuân Canh Dần

  • In bài:
  • Chia sẻ lên LinkHay.com
  • Lên đầu trang:
Tags:
Các tin khác